Showing posts with label Phân Tích Cơ Bản. Show all posts
Showing posts with label Phân Tích Cơ Bản. Show all posts

Friday, 29 July 2016

HẠN CHẾ CỦA VIỆC PHÂN TÍCH CÁC HỆ SỐ TÀI CHÍNH


   Các hệ số tài chính chỉ cung cấp một phần thông tin cần thiết để đánh giá hoạt động và hiệu quả chung của một công ty, trong khi các yếu tố thống kê khác, như rủi ro cũng được nhà đầu tư tính toán đến để có được bức tranh đầy đủ về tình hình tài chính của một doanh nghiệp.

   Việc so sánh các hệ số có thể dẫn đến sai lầm chỉ vì những phương pháp tính toán khác nhau. Chẳng hạn khi công ty thông qua các chuẩn mực kế toán mới, tức là công ty có thể đã chuyển từ một phương thức đánh giá hàng dự trữ FIFO (nhập trước, xuất trước) sang LIFO (nhập sau, xuất trước). Công ty có thể đã đổi từ phương pháp khấu hao trực tuyến sang phương pháp khấu hao tăng tốc . Hay thông qua việc sát nhập, công ty có thể thuộc ngành công nghiệp mới. Cũng có thể do một số thuật toán kế toán làm đẹp số. Hoặc có thể giá trị tài sản của công ty được kê khai không chính xác do lạm phát tăng cao. Một vài số liệu ngành cũng có thể bị sai lệch, đặc biệt nếu các số liệu trung bình có tính đến nhiều công ty nhỏ, yếu về tài chính, ...

   Nhà đầu tư nên thận trọng khi đánh giá các khoản nợ của công ty. Nếu các khoản vốn được huy động bằng cách phát hành trái phiếu chuyển đổi đã đến hạn thanh toán hoặc được chuyển đổi sớm thì việc giải thích hệ số D/E (Nợ trên vốn chủ sở hữu) sẽ khác với khi nợ thể hiện bằng các đợt trái phiếu có lãi suất cố định. Tương tự một số công ty có thể huy động vốn bằng các khoản thuê ngắn hạn dẫn đến việc một vài hệ số tài chính sẽ được công bố không chính xác. Điều này đặc biệt đúng với hệ số thu nhập trên vốn đầu tư ROI.

   Việc sử dụng các dữ liệu được công bố cũng không đơn giản, vì các số liệu ngành chỉ bao gồm các công ty hoạt động tốt nhất và có tình hình tài chính khả quan. Ngoài ra việc phân loại các công ty cụ thể để đưa vào một ngành nào đó là rất khó khăn, vì hầu hết các công ty đều có quy trình sản xuất khác nhau và một công ty có thể cùng lúc hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Vấn đề này có thể làm sai lệch kết quả so sánh các hệ số của công ty và hệ số ngành. Bên cạnh đó nhà đầu tư cũng phải dè chừng các công ty đang tìm cách chi phối các con số bằng cách phân tán tài sản hay dùng những thủ thuật mờ ám đối với chi phí thay thế. Mặc dù nghiệp vụ kế toán đã có nhiều cải tiến nhằm ngăn chặn những hiện tượng này, nhưng vẫn tồn tại nhiều cách giải thích và phương pháp khác nhau để lập các báo cáo tài chính để che dấu các điểm mạnh hay điểm yếu thực tế của doanh nghiệp. Do vậy, khi tiến hành phân tích các báo cáo tài chính và tham khảo các hệ số tài chính, nhà đầu tư nên hiểu rằng các nhà phân tích và các nhà quản lý có thể đưa ra những giải thích khác nhau. 

   Tóm lại, cần hết sức thận trọng khi phân tích  một công ty dựa trên các hệ số tài chính và phải tính đến những hạn chế liên quan đến các hệ số này.

Wednesday, 27 July 2016

CÁC HỆ SỐ TÀI CHÍNH THƯỜNG DÙNG TRONG PHÂN TÍCH CƠ BẢN

1.     Hệ số khả năng thanh toán:
Hệ số thanh khoản sẽ cho biết khả năng của cty trong việc  chi trả các khoản nợ ngắn hạn, cũng như khả năng chuyển đổi tài sản hiện thời thành tiền. Khả năng thanh toán bao gồm các yếu tố sau:

-         Vốn lưu động thuần:
Cty nào cũng cần vốn lưu động (VLĐ) để tài trợ cho các hoạt động hàng ngày. Duy trì mức VLĐ hợp lý là yêu cầu hết sức quan trọng đối với các cty, bởi điều đó giúp cty kịp thời trang trải nghĩa vụ hiện tại , khả năng mở rộng sản xuất và tìm kiếm cơ hội mới.
VLĐ thuần là hiệu số giữa tài sản hiện thời (Tài sản lưu động) và nợ ngắn hạn.

VLĐT = Tổng tài sản hiện thời  – Tổng nợ ngắn hạn.

-         Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (HSTTHT) :
    Hệ số này chỉ ra khả năng của cty đối với  việc trang trải nợ ngắn hạn bằng số tài sản hiện thời. Hệ số thanh toán hiện thời thấp thể hiện rằng Vốn lưu động có vấn đề. Hệ số này được tính như sau:

HSKNTTHT = Tổng tài sản lưu động/Tổng nợ ngắn hạn

Ví dụ : Cty ABC có hệ số thanh toán hiện thời là 2.000 vnđ, nghĩa là có 20.000 vnđ tài sản lưu động để thanh toán cho 1 vnđ  nợ ngắn hạn.
Rất nhiều nhà phân tích cho rằng hsttht ít nhất là 2/1 thì doanh nghiệp mới được xem là đủ độ an toàn. Tuy nhiên hàng tồn kho cũng được coi là tài sả lưu động, nên nhà phân tích phải tính đến giá trị của chúng khi phân tích hsttht. Trong nhiều trường hợp hệ hsttht  an toàn có thể thiếu chính xác bởi hàng tồn kho có thanh khoản thấp. Thực tế cho thấy các cty có giá trị hàng tồn kho nhỏ và các khoản nợ dễ thu hồi vẫn có thể  hoạt động ổn định, dù hsttht thấp.

-         Hệ số khả năng thanh toán nhanh (hệ số thử Axit):
Do hệ số thanh toán hiện thời có thể bị  sai lệch bởi giá trị hàng  tồn kho của cty, nên người ta lập ra hệ số thử axit – là hệ số đo lường khả năng  thanh toán chặc chẽ hơn so với khả năng thanh toán hiện thời. Hệ số thử axit được tính theo công thức:

HST Axit = (Tổng tài sản lưu động –Hàng tồn kho)/Tổng nợ ngắn hạn

Thông thường, hệ số Axit lớn hơn 1 là an toàn, vì nó cho thấy cty có khả năng trang trải  các khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu hay doanh só bán hàng.

-         Hệ số tài sản tiền tệ:
Đây gần như là phép thử chắc chắn nhất về khả năng đáp ứng nghĩa vụ hiện thời của một cty. Hệ số này được tính như sau:

HSTSTT = (Tiền + CK có thể bán trên thị trường)/Tổng nợ ngắn hạn

-         Lưu chuyển tiền tệ:
Lưu chuyển tiền tệ phản ánh số tiền được tạo ra bởi hoạt động của cty. Các kỹ thuật phân tích cơ bản luôn phải xem xét chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng của một cty trong việc đáp ứng các chi phí hiện thời và chi trả cổ tức.
Để xác định lưu chuyển tiền tệ người ta cộng chi phí  khấu hao với lợi nhuận ròng (hay lỗ). Chỉ tiêu này được lấy từ báo cáo thu nhập.

LCTT = Lợi nhuận ròng(hay lỗ) + Khấu  hao hàng năm

Lưu chuyển tiền tệ là số dương, cho thấy thu nhập của cty đủ trang trải các chi phí, và chắc chắn sẽ chi trả cỏ tức. Lưu chuyển tiền tệ là số âm, nghĩa là cty thua lỗ và khó khăn khi cần trang trải nợ ngắn hạn.
2.     Tỷ lệ vốn hóa:
Nhà phân tích thường sử dụng tỷ lệ này để đánh giá nguy cơ phá sản của một cty.Việc phân tích này bao gồm đến vốn dài hạn của một cty. Vốn dài hạn trong bảng cân đối kế toán bao gồm toàn bộ vốn cp cộng vớ nợ dài hạn Bao gồm các công thức:
-         Tỷ lệ cp thường:
Cho biết tỷ lệ cổ phiếu thường trong tổng số vốn dài hạn

Hệ số CP Thường = (mệnh giá cp thường+Thặng dư vốn+Thu nhập giữ lại)/Tổng số vốn dài hạn

-         Tỷ lệ cp ưu đãi:
Cho biết tỷ số cp ưu đãi trong tổng số vốn dài hạn:

TLCPUĐ = Mệnh giá cp ưu đãi/tổng số vốn dài hạn

-         Tỷ lệ trái phiếu: cho biết tỷ lệ phần trăm của vốn dài hạn so với trái phiếu.

TLTP = Mệnh giá của trái phiếu/Tổng số vốn dài hạn

-         Tỷ lệ nợ so với vốn cổ phần:
Được sử dụng để đánh giá mức độ tin cậy của một công ty:

TLNSVVCP = (các trái phiếu + cp ưu đãi)/(Mệnh giá cp thường + Thặng dư vốn + Thu nhập giữ lại)

3.     Hệ số trang trải:
Các hệ số trang trải đo lường khả năng của một cty trong việc trả lãi cho các trái chủ và trả cổ tức cho các cổ đông ưu đãi.

-         Hệ số thanh toán lãi trái phiếu:
Việc không thanh toán lãi cho các trái chủ sẽ khiến cty không thể tiếp tục vay nợ được. Bằng sự so sánh số tiền sẵn có để trả lãi với số tiền lãi mà cty thật sự đã thanh toán, nhà phân tích có thể đánh giá mức độ an toàn của các trái chủ. Hệ số thanh toán lãi trái phiếu được tính như sau:

HSTTLTP = Lợi nhuận trước khi trả lãi và thuế (EBIT)/Chi phí tiền lãi trái phiếu hàng năm.

-         Hệ số thanh  toán cổ tức ưu đãi:
Việc không chi trả cổ tức ưu đãi là một sai lầm nghiêm trọng, vì ddieuf này có thể ảnh hưởng tới giá tị trường của cp ưu đãi. Vì thế, các nhà phân tischcaafn phải xác định khả năng chi trả cổ tức của một cty. Hệ số thanh toán cổ tức được tính như sau:

HSTTCTƯĐ = Lợi nhuận ròng/Cổ tức ưu đãi.

-         Khả năng  lợi nhuận và sử dụng tài sản:
Việc tính toán khả năng lợi nhuận  cho biết số lợi nhuận mà một cty đạt được cho mỗi đồng tiền hàng bán ra. Các nhà phân tích thường  nhìn vào toàn bộ thu nhập hoạt động (lợi nhuận gộp) và lợi nhận ròng để đánh giá khả năng tạo ra  lợi nhuận.

HSTLN = Thu nhập hoạt động/Doanh số thực

-         Hệ số lợi nhuận ròng:
Để tính toán lợi nhuận ròng thu được từ mỗi đồng tiền bán hàng, dùng công thức sau:

HSLNR = Thu nhập thuần túy/Doanh số thực

-         Tỷ lệ hoàn vốn  của cp thường:
Tỷ lệ hoàn vốn của cp tường là một thước đo quan trọng  đối với khả năng tạo ra lợi nhuận của cty . Dưới đây là công thức so sánh số thu nhập mỗi năm của các cổ đông thường với các cổ phiếu thường của cty:

TLVHCPT = (Lợi nhuận ròng-Cổ tức ưu đãi)/(Mệnh giá cp thường+Thặng dư vốn+Thu nhập dữ lại)

-         Tỷ lệ luân chuyển hàng hóa(vòng quay hàng tồn kho):
Tỷ lệ luan chuyển hàng hóa thể hiện hiệu quả việc quả việc quản lý hàng tồn kho của cty.  Tỷ lệ luân chuyển hàng hóa thấp cho biết giá trị hàng tồn kho là quá lớn, tức là cty sử dụng tài sản không hiệu quả. Thông thường, tỷ lệ luân chuyển cao cho thấy sản phẩm được tiêu thụ nhanh và chi phí tồn kho thấp.
Tỷ lệ hàng hóa được tính như sau:

TLLCHH = Chi phí của hàng bán ra/Hàng tồn kho.

-         Giá sổ sách của mỗi cổ phiếu thường:
Nhà phân tích sẽ dựa vào bảng cân đối kế toán để  so sánh giá trị tài sản với giá chứng khoán  mà cty đã phát hành, con số này được gọi là giá sổ sách của mỗi cổ phiếu thường, hoặc gọi là giá trị tài sản hữu hình thực.

GTSS = (Tổng TS – TS vô hình – Tổng số nợ - Cổ phiếu ưu đãi)/Số cổ phiếu thường.

Không nên nhầm lẫn giá trị sổ sách với giá trị thanh khoản, và giá trị thị trường. Giá trị thanh khoản thực tế của một cty phụ thuộc vào số tiền cty nhận được do bán tài sản, còn giá trị thị trường bị chi phối  bởi cung - cầu của cổ phiếu đó trên thị trường.

4.     Đánh giá thu nhập :

-         Thu nhập trên cổ phần (ROE – Return On Equity):
Hệ số thu nhập trên cổ phần hay hệ số xoay vòng vốn, là thước đo tỷ suất lợi nhuận của cổ đông. Đây là thước đo tốt nhất về năng lực của một công ty trong việc tối đa hóa lợi nhuận từ mỗi đồng tiền vốn đầu tư của mình, và cty nào đạt được hệ số ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh của cty đó càng mạnh, và ngược lại. Vì thế các nhà phân tích chứng khoán và các cổ đông đặc biệt quan tâm đến hệ số này.
Nói chung hệ số ROE càng cao thì cổ phiếu càng có sức hấp dẫn. ROE được tính như sau:

ROE = Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.

-         Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI – Return On Investment):
Đây là hệ số của cty Du Pont phát triển để sử dụng riêng, nhưng ngày nay nó được rất nhiều cty lớn sử dụng như một cách thức tiện lợi để xác định tổng thể những ảnh hưởng của các biên lợi nhuận lên tổng tài sản.

ROI = [Thu nhập ròng/Doanh số bán hàng] x [Doanh số bán hàng/Tổng tài sản] = Thu nhập ròng/Tổng  tài sản.

Công thức này dùng để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một cty và cách thức cty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả thì  thu nhập sẽ cao (và ROI cao), và ngược lại.

-         Thu nhập trên mỗi cổ phiếu ( EPS )
Yếu tố chủ chốt đóng góp cho giá thị trường là thu nhập của mỗi cổ phiếu (EPS). Chỉ số này cho biết thu nhập của mỗi cổ đông thường . Công thức:

EPS = (Lợi nhuận ròng – Cổ tức ưu đãi)/Số lượng cổ phiếu đã phân phối.

-         Hệ số giá trên thu nhập P/E (Price to Earnings)
Do nhà đầu tư phân tích có xu hướng dự đoán triển vong trong tuong lai của công ty, nên giá thị trường sẽ chịu ảnh hưởng mạnh bởi thu nhập của mỗi cổ phiếu. Hệ số P/E chính là chỉ số đo lường giữa giá thị trường và EPS.


Hệ số giá/thu nhập =  Giá thị trường/thu nhập của mỗi cổ phiếu

Hệ số P/E cao cho thấy nhà đầu tư đang trả giá cao cho thu nhập hiện tại họ kỳ vọng thu nhập tương lai sẽ cao hơn. Các cổ phiếu có P/E cao (đặc biệt là cty có mức tăng trưởng tốt) thường có khuynh hướng trả cổ tức thấp.

-         Hệ số chi trả cổ tức
Hệ số chi trả cổ tức đo lường tỷ lệ phần trăm lợi nhuận ròng mà cty trả cho cổ đông (thường dưới dạng cổ tức). Hệ số chi trả cổ tức được tính như sau:

Hệ số chi trả cổ tức = Cổ tức chi trả cho các cổ phiếu thường hàng năm/EPS thu nhập của mỗi cổ phiếu.

-         Hệ số lãi cổ phần trên thời giá ( lợi tức hiện thời ):
Lợi tức hiện thời của cổ phiếu thường thể hiện tỷ lệ hoàn vốn cổ tức dựa trên  giá thị trường hiện thời của cổ phiếu. Chỉ số này được tính như sau:

 Lợi tức hiện thời = Cổ tức hàng năm của mỗi cổ phiếu thường/Thị giá

* Như vậy, từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của cty, nhà đầu tư có thể  tính được các chỉ tiêu cơ bản nhằm xác định sự lành mạnh về tài chính và khả năng thu nhập từ cổ phiếu của một cty.